Ngậm Miệng Mà Sống
Chương 3
4
Tết Thượng Nguyên đến.
Khắp thành giăng kín đèn hoa, hai bên đường Chu Tước treo đầy đủ loại lồng đèn sặc sỡ, đèn thỏ ngọc, đèn liên hoa, đèn tẩu mã, chiếu sáng cả con phố rực rỡ như ban ngày.
Ta vẫn còn nhớ lời thề với Thanh La rằng sẽ không đi xem đèn, nhưng ta đã nuốt lời.
Không phải ta không kiềm lòng được, mà là do ta đã nhìn thấy tương lai của nàng ta — nếu ta không đi, nàng ta sẽ gặp gỡ Triệu Hổ tại hội đèn lồng, rồi theo Triệu Hổ rời đi. Sáng hôm sau trở về, trên cổ nàng ta sẽ hằn thêm một vệt đỏ, ánh mắt sẽ đổi khác.
Đó không phải là dấu vết bị cường bạo, mà là tâm tâm niệm niệm cam tâm tình nguyện.
Con người Triệu Hổ, sinh ra đã có bộ da đẹp đẽ, lại càng có cái miệng dẻo quẹo. Hắn có thể trong vòng ba ngày khiến một nữ nhân phải sống chết vì hắn. Kiếp trước hắn làm được, kiếp này hắn vẫn thừa sức làm được.
Cho nên ta phải đi.
Không phải để ngăn cản — ta biết có ngăn cũng vô ích. Ta đi để nhìn cho tỏ tường, kẻ đứng sau giật dây Triệu Hổ rốt cuộc là ai.
Kiếp trước ta luôn đinh ninh Triệu Hổ là người của Thôi Tĩnh Chi. Nhưng trước lúc nhắm mắt Thanh La nói “Hắn là người của Chu Diễn”, ta mới vỡ lẽ mình đã nhầm.
Thôi Tĩnh Chi hay Triệu Hổ, thảy đều chỉ là những quân cờ. Kẻ đánh cờ thật sự, trước sau luôn ẩn nấp sau bức màn.
Đêm hội lồng đèn Thượng Nguyên, chính là nước cờ đầu tiên trên bàn cờ ấy.
Ta dẫn Thanh La rời phủ.
Nàng ta vui sướng như một đứa trẻ, cứ lôi kéo ta lát xem lồng đèn này, lát ngắm lồng đèn kia. Ta mặc cho nàng ta kéo đi, ánh mắt thì mải miết rà soát trong đám đông.
Chẳng mấy chốc, ta đã nhìn thấy Triệu Hổ.
Hắn khoác trường bào màu lam sẫm, bên hông lủng lẳng tấm yêu bài của thị vệ Đông cung, đang đứng cạnh gã bán kẹo hồ lô, trò chuyện cùng ai đó. Kẻ nói chuyện với hắn đang quay lưng về phía ta, thân hình dong dỏng cao, khoác một bộ đạo bào màu nguyệt bạch, đầu đội màn sa, cộng thêm dòng người đông đúc, không sao nhìn rõ dung nhạo.
Triệu Hổ đi trước, kẻ mặc đạo bào kia sau đó cũng quay lưng hướng về một ngả khác.
Đúng ngay khoảnh khắc hắn xoay người, ta đã nhìn thấy sườn mặt hắn.
Rất trẻ. Tầm đôi mươi. Xương mày cao nhô, sống mũi thẳng tắp, đường nét cằm góc cạnh sắc bén. Không giống cái tướng mạo tròn trịa thường thấy của người Thượng Kinh, mà thiên về cốt cách vùng Tây Bắc.
Ta không nhìn thấu tương lai của hắn.
Sử quan không nhìn thấu mệnh của mình, cũng không nhìn thấu mệnh của chí thân. Ngoài những điều đó, chỉ có một loại người mà ta không thể bề tỏ — kẻ đại ác, hoặc kẻ đại quý. Mệnh cách quá nặng nề, tựa như một lớp sương mù đặc quánh, che lấp đi tất thảy.
Kiếp trước ta từng gặp qua vài người như thế, mỗi một người đều là kẻ khuấy đảo thiên hạ.
“Tiểu thư!” Thanh La bỗng thảng thốt kêu lên một tiếng.
Ta hoàn hồn, thấy nàng ta đang ngồi xổm trên mặt đất, nhặt xâu kẹo hồ lô vừa đánh rơi.
Giúp nàng ta nhặt lên, là một bàn tay. Móng tay cắt tỉa gọn gàng, đốt ngón tay rõ rệt, hổ khẩu hằn một lớp vết chai mỏng — đó là vết chai chỉ có ở những kẻ quanh năm tập luyện đao kiếm.
Triệu Hổ.
Hắn mỉm cười với Thanh La, đưa xâu kẹo hồ lô qua: “Cô nương, của cô nương đây.”
Mặt Thanh La nháy mắt ửng đỏ bừng.
Y hệt.
Khúc dạo đầu hệt như kiếp trước.
Ta đứng cách đó ba bước, lẳng lặng quan sát tất cả. Ánh mắt Triệu Hổ vượt qua Thanh La, rơi xuống người ta, hơi khựng lại, rồi gật đầu với ta.
“Vị này là?”
“Là tiểu thư nhà ta.” Thanh La vội vã đứng dậy, nhét xâu kẹo hồ lô vào tay ta, “Tiểu thư, vị công tử này giúp ta nhặt kẹo hồ lô lên đấy.”
Ta trực diện nhìn vào mắt Triệu Hổ.
Tương lai của hắn trải rõ rành rành trước mắt ta: Hắn sẽ thú Thanh La, sẽ được phong làm Phó thống lĩnh Cấm quân sau khi Chu Diễn đăng cơ, sẽ vào năm ba mươi tuổi chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt mà chọc giận Chu Diễn, bị đánh chết bằng gậy ngay trước cổng Đông cung.
Lúc hắn chết, Thanh La đang mang thai đứa con thứ hai của họ.
“Đa tạ.” Ta nhạt nhẽo đáp.
Triệu Hổ chắp tay: “Tiện tay mà thôi. Cô nương là…”
“Dư thị.”
Lông mày hắn khẽ động: “Dư công của Thái Sử cục…”
“Là tổ phụ.”
“Thất kính.” Hắn lùi lại nửa bước hành lễ, “Tại hạ thị vệ Đông cung Triệu Hổ. Đại danh Dư công, tại hạ đã nghe danh từ lâu.”
Hắn dĩ nhiên đã nghe danh từ lâu.
Thị vệ Đông cung, tai dài hơn ai hết, nơi nào mà chẳng hay thấu.
Ta không nói thêm lời nào, kéo Thanh La cất bước. Đi được một quãng khá xa, ta ngoái đầu nhìn lại — Triệu Hổ vẫn đứng tại chỗ, dõi mắt nhìn theo chúng ta. Lẫn lộn trong đám đông cách hắn không xa, vạt đạo bào màu nguyệt bạch kia chợt lướt qua.
Ta nhìn rõ ám văn thêu trên gấu áo đạo bào.
Là một cành hoa đào.
Người mặc đạo bào ở Thượng Kinh đếm không xuể, nhưng thêu hoa đào lên đạo bào, ta chỉ nghe nói có một người.
Quốc sư Thẩm Tố.
Hai mươi ba tuổi. Nhập kinh năm năm trước, ba năm trước được Hoàng đế phong làm Quốc sư. Nghe đồn y tinh thông thuật luyện đan, hô phong hoán vũ, có thể đối thoại với quỷ thần. Hoàng đế đối với y càng là răm rắp nghe lời, văn võ bá quan không ai dám đắc tội y.
Kiếp trước khi ta bị giam trong Thái Sử cục, từng qua song cửa nhìn thấy y từ xa một lần. Y đi ngang qua cổng Thái Sử cục, Thôi Tĩnh Chi quỳ mọp dưới đất hành lễ với y. Y không thèm đếm xỉa Thôi Tĩnh Chi, lại hơi nghiêng đầu, nhìn vọng về phía căn phòng nơi ta đang ở.
Chỉ một cái nhìn ấy, đã khiến ta ròng rã ba ngày mộng mị, áo lót thay hết mấy bộ.
Ta mơ thấy một lò luyện đan cao như ngọn núi, ngọn lửa hừng hực thiêu đốt suốt bảy bảy bốn mươi chín ngày. Khi cửa lò mở ra, bước ra từ trong đó chẳng phải là đan dược, mà là một con người.
Người đó khoác đạo bào màu nguyệt bạch, trên áo thêu hoa đào.
Lúc y bước ra, cả cõi trần gian đều đang chìm trong biển lửa.
Ta không đem giấc mộng đó kể cho bất kỳ ai. Bởi vì ta biết, đó chẳng phải quá khứ, đó là tương lai.
Là tương lai của Thẩm Tố.
Cũng là tương lai của tất thảy mọi người.
5
Ngày thứ ba sau Tết Thượng Nguyên, cung người lại phái kẻ đến.
Lần này không phải Cao Đức An, mà là hai tên tiểu thái giám gương mặt xa lạ, truyền lời rằng Quốc sư mời ta đến Đan Hà quan một chuyến.
Đan Hà quan ngự ở góc tây bắc của hoàng thành, tiếp giáp ao Thái Dịch, là đạo quán do Hoàng đế đặc biệt cho xây cất vì Quốc sư. Nghe đâu bên trong có ba mươi sáu gian đan phòng, bếp lò mỗi phòng ngày đêm lửa cháy không ngớt.
Thanh La cất tiếng hỏi: “Tiểu thư, Quốc sư tìm người làm gì?”
Ta không đáp. Bởi chính ta cũng muốn biết câu trả lời.
Kiếp trước Thẩm Tố chưa một lần tìm ta.
Y tựa hồ chim ưng lượn vòng trên không trung hoàng thành, cao cao tại thượng, nhìn xuống muôn dân, nhưng tuyệt chẳng bao giờ sà xuống mặt đất. Ít nhất, trong những năm tháng ta bị giam hãm, y chưa từng một lần đáp xuống.
Kiếp này y bỗng nhiên muốn gặp ta.
Chẳng lẽ vì ta đã buông lời “không thể” trên đài Quan Tinh?
Đan Hà quan yên ắng hơn ta tưởng. Chẳng thấy khói nhang nghi ngút như trong tâm trí, cũng chẳng có đạo sĩ ngược xuôi. Đạo quán thênh thang vắng lặng như tờ, thi thoảng chỉ vọng lại đôi tiếng hạc kêu từ sâu thẳm hồi lang.
Tiểu thái giám dẫn ta đến trước cửa một gian trà thất, rồi cung kính khom người lui ra.
Ta đẩy cửa bước vào.
Thẩm Tố đang ngồi tĩnh tọa dưới khung cửa sổ, bày sẵn trước mặt một bộ trà cụ, hai chén trà. Ngoài song cửa là một gốc mai già, hoa dẫu tàn nhưng cành lá vẫn xanh rờn. Tia nắng xuyên qua tán lá rọi xuống vạt đạo bào màu nguyệt bạch của y, cành hoa đào thêu trên áo dường như sống dậy.
“Dư cô nương, mời ngồi.”
Thanh âm của y rất khẽ, tựa như ngọn gió thổi qua ao Thái Dịch.
Ta ngồi xuống.
Y rót một chén trà đẩy đến trước mặt ta, rồi ngước mắt lên, đánh giá ta.
Đây là lần đầu tiên ta nhìn thấy gương mặt y ở khoảng cách gần như vậy.
Rất trẻ, trẻ trung hơn cả sức tưởng tượng của ta. Nếu không khoác bộ đạo bào và cái thân phận Quốc sư mà cả triều kiêng dè, trông y chẳng khác gì một công tử thế gia đang dùi mài kinh sử ở Thái học.
Nhưng đôi mắt y thì không phải.
Trong đôi mắt ấy ẩn chứa thứ gì đó thâm trầm khôn tả, tựa như thứ bùn lắng đọng ngàn năm, bên trên bị che khuất bởi làn nước trong veo.
Ta không nhìn thấu tương lai của y.
Sương mù đặc quánh. Sương mù dày đặc hơn bất cứ kẻ nào.
“Dư cô nương, ngày Thượng Nguyên ở đường Chu Tước, cô nương đã trông thấy ta.”
Đó không phải câu hỏi, ta giữ im lặng.
Y nâng chén trà của mình, thổi nhẹ màng sủi bọt, chậm rãi nhấp một ngụm.
“Cô nương thấy ta, ta cũng thấy cô nương. Ta thấy cô nương đang nhìn Triệu Hổ, thấy cô nương kéo tỳ nữ rời đi, và thấy cô nương ngoái đầu nhìn lại.” Y hạ chén trà, “Ta còn thấy, khoảnh khắc cô nương ngoái lại, ánh mắt mang theo sự kinh hãi.”
Y dừng lại đôi chút.
“Sự kinh hãi đó không phải dành cho Triệu Hổ.”
“Mà là dành cho ta.”
Gian trà thất lặng như tờ, y buông những lời ấy nhẹ bẫng, như thể đang kể một câu chuyện vô thưởng vô phạt. Tiếng hạc ngoài song cửa lại cất lên.
“Cô nương e sợ ta, cớ vì sao? Chúng ta dường như chưa từng giáp mặt.”
Ta nhìn thẳng vào mắt y. Sương mù dày quá, đặc quánh đến mức ta chẳng thể nhìn xuyên. Nhưng chính sự “không thể nhìn xuyên” này, lại gọi về giấc mộng kiếp trước — cửa lò bật mở, y bước ra từ biển lửa, cả nhân gian chìm trong bão lửa.
“Quốc sư đại nhân, ta không sợ ngài.”
“Ồ?”
“Ta sợ lửa.” Nửa câu sau ta giấu nhẹm đi, thứ ta sợ, là lửa bén đến thân mình.
Bàn tay đang bưng chén trà của y thoáng khựng lại.
Chỉ là một khoảnh khắc rất nhỏ, nhanh đến mức tưởng như chẳng thể phát giác. Nhưng ta đã nhận ra. Kiếp trước bị giam cầm bảy năm, ta mỗi ngày đều để mắt đến những kẻ đưa cơm, đưa thuốc, hỏi han cung hình. Quan sát từng biểu cảm biến ảo trên gương mặt họ, là chuyện duy nhất ta có thể làm.
Thẩm Tố đặt chén trà xuống, nhìn ta.
Ánh mắt y biến đổi. Không phải trở nên sắc bén hơn, mà là thêm phần thâm trầm. Cái sự thâm trầm ấy, tựa như một kẻ đột ngột xác nhận được điều gì đó.
“Dư cô nương, ta hỏi cô nương một chuyện.”
“Quốc sư cứ hỏi.”
“Tổ phụ cô nương là Dư Bá An, trước khi tạ thế, đã nói gì với cô nương?”
“Sử quan chỉ ghi chép, không cất lời.”
“Không đúng.” Y lắc đầu, “Đó là lời ngoài sáng. Lời cất giấu trong tối, ông ấy chưa nói ra, nhưng cô nương tường tận.”
Những ngón tay giấu trong tay áo của ta khẽ siết chặt.
Thẩm Tố đứng dậy, bước đến bên cửa sổ, quay lưng về phía ta. Nắng kéo bóng y trải dài, kéo dài đến tận gót chân ta, tuyệt không vượt quá nửa phân.
“Thái Sử cục mười một đời. Bắt đầu từ đời Thái Sử Lệnh đầu tiên là Dư Quan, Dư gia đã nắm giữ một bí mật.” Tiếng y theo gió vọng tới, thong dong mà từ tốn, “Bí mật này, Sử quan mọi thời đại đều biết rõ, nhưng không một ai dám chắp bút ghi vào sử sách.”
“Bởi vì những thứ ghi vào sử sách, gọi là lịch sử.”
“Còn những thứ không được ghi lại, gọi là thiên cơ.”
Y xoay lưng lại, ngược chiều ánh sáng mà nhìn ta. Gương mặt chìm trong bóng râm, duy chỉ đôi mắt là sáng bừng rực rỡ.
“Dư cô nương, tổ phụ cô nương đã đem thiên cơ truyền lại cho cô nương.”
“Có đúng không?”
Trà đã nguội ngắt.
Bên ngoài lại vọng đến một tiếng hạc, the thé hơn ban nãy.
Ta cúi đầu rũ mắt nhìn hình bóng mình soi dưới đáy chén. Mặt nước phản chiếu dung nhan tuổi mười lăm, ngây ngô, nhợt nhạt, nhưng trong đôi mắt lại hằn sâu thứ chất chứa mà tuổi mười lăm không nên có.
“Quốc sư đại nhân.” Ta ngẩng đầu lên, “Ngài luyện đan, là vì cớ gì?”
Y nín lặng, chẳng đáp lấy một lời.
Ta tiếp lời: “Bệ hạ mong cầu trường sinh, thế nên Quốc sư luyện đan. Việc này khắp cả triều đình đều hay. Nhưng ta lại nhìn thấy—”
Ta ngưng bặt, không có ý định nói thêm.
Thẩm Tố nhìn ta, mang theo vài tia dò xét: “Cô nương nhìn thấy điều gì?”
Ta nhìn thấy cửa lò bật mở, ngài bước ra từ ngọn lửa bừng bừng.
Ta nhìn thấy cả nhân gian chìm trong biển lửa.
Ta nhìn thấy ngài đứng giữa trung tâm cõi trần rực cháy, vạt đạo bào màu nguyệt bạch bám đầy tro tàn, chỉ riêng cành đào thêu nọ là nguyên vẹn vẹn toàn.
Nhưng, ta không thể nói.
“Ta nhìn thấy trên vạt đạo bào của Quốc sư đại nhân có thêu hoa đào.”
“Đạo sĩ ở Thượng Kinh, chẳng ai lại đi thêu hoa lên đạo bào.”
Thẩm Tố im lặng một đỗi, bỗng bật cười.
Nụ cười nhàn nhạt, tựa nụ mai đầu đông hé nở.
“Đây là hoa ở quê hương ta.” Y cất lời, “Ta rời xa quê hương quá lâu, rốt cuộc cũng phải mang theo chút gì đó bên mình.”
Y bước trở lại, ngồi xuống đối diện ta, giũ nhẹ vạt tay áo, rót thêm một chén trà. Lần này y không đẩy sang cho ta, mà tự thân nâng lên chậm rãi nhấp nháp.
“Dư cô nương, cô nương nói Sử quan chỉ ghi chép không cất lời. Thế nhưng cô nương đã bao giờ nghĩ tới, nếu bản thân sự ghi chép, vốn dĩ đã là một cách cất lời?”
Ta sững người.
Đọc tiếp: Chương 4 →